Tạp chı́ Khoa học Trươ
̀ng Đại học Cần Thơ Phần D: Khoa học Chính trị, Kinh tế và Pháp luật: 46 (2016): 51-59
52
Thành phố Cần Thơ (TPCT) là trung tâm, đầu
mối đối nội, đối ngoại quan trọng của vùng Đồng
bằng sông Cửu Long. Tại đây, du lịch đã trở thành
một xu hướng phổ biến trong đời sống người dân.
Với mức sống và thu nhập ngày càng được nâng
cao thì chắc hẳn nhu cầu du lịch giải trí của người
dân tại thành phố sẽ ngày càng gia tăng. Số liệu
thống kê gần đây cho thấy tốc độ tăng GDP bình
quân thời kỳ 2011 – 2015 của khu vực là 16%/năm
và thời kỳ 2016 – 2020 ước đạt 8%/năm. Đồng
thời, GDP bình quân đầu người của thành phố ước
đạt 4.611 USD vào năm 2020 (tăng thêm 1.281
USD so với năm 2014). Tuy nhiên, để đáp ứng tốt
nhu cầu du lịch của những người đang sinh sống,
làm việc tại đây thì đòi hỏi các công ty du lịch,
dịch vụ giải trí trong khu vực phải nắm rõ được các
đặc điểm của khách hàng, các yếu tố tác động đến
nhu cầu du lịch của họ thì mới tìm ra được phương
thức tổ chức các chuyến tham quan một cách phù
hợp, khuyến khích việc du lịch của người dân. Trên
thực tế, khi cuộc sống ngày càng phát triển thì lại
càng xuất hiện thêm nhiều yếu tố mới ảnh hưởng
đến nhu cầu của con người, việc nghiên cứu các tác
nhân tác động đến mong muốn của họ là điều cần
thực hiện. Điều này giúp chúng ta vạch ra các
chính sách du lịch, đường lối thực hiện đúng đắn,
giúp ngành du lịch “không bị lỗi thời” nhằm đem
đến lợi ích cao nhất cho khách hàng, doanh nghiệp
và nền kinh tế của thành phố.
Song song đó, TPCT cũng được xem là cái nôi
tri thức của Đồng bằng sông Cửu Long, địa bàn
thành phố tập trung rất nhiều doanh nghiệp đang
hoạt động và phát triển. Do đó, bộ phận nhân viên
văn phòng (NVVP) đang công tác tại khu vực rất
đáng kể. Họ là những người có thu nhập ổn định,
có khả năng chi trả cho những mong muốn của
mình. Đồng thời, họ cũng là những người thường
đối mặt với mệt mỏi do công việc gây ra nên ý
nghĩ du lịch để cân bằng lại cuộc sống sẽ được
hình thành trong tâm trí họ. Tuy nhiên, trên thực tế
việc du lịch lại khá khó khăn vì đa phần các công
ty chú trọng vào chuyến tham quan dài hạn,; trong
khi xin nghỉ phép quá lâu là điều khó khăn của
nhữngNVVP. Mặt khác, một số chuyến du lịch
ngắn ngày đôi lúc chất lượng lại khá thấp nên gây
mất niềm tin đối với bộ phận trên. Tình trạng quá
tải ở các địa điểm du lịch vào những ngày cuối
tuần cũng là một lý do khác làm cho nhu cầu du
lịch của họ không thể thực hiện. Đây được xem là
đối tượng có khả năng hình thành nhu cầu du lịch
khá cao nhưng lại gặp phải nhiều vấn đề với mong
muốn này. Bên cạnh đó, khi mức sống ngày càng
nâng cao thì những đòi hỏi của họ về du lịch ngày
càng gia tăng hơn nữa. Theo Cổng thông tin điện
tử Chính phủ thành phố Hồ Chí Minh thì “du lịch
nội địa đã tăng trưởng với tốc độ rất nhanh nhờ các
chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Nhiều người dân
cũng chuyển sang chọn các tuyến nội địa thay vì đi
nước ngoài”. Một phần nguyên nhân là do tại Việt
Nam chi phí du lịch nước ngoài thường rất cao và
du khách phải mất nhiều thơi gian hơn cho việc
thực hiện các thủ tục cần thiết. Đồng thời, việc đẩy
mạnh tham quan nội địa sẽ giúp gia tăng khoản thu
từ du lịch, tạo thêm việc làm tại các điểm du lịch
quốc gia thay vì nước ngoài, qua đó góp phần phát
triển nền kinh tế nói chung và ngành du lịch quốc
gia theo chiều hướng tốt hơn. Xuất phát từ thực tế
trên, việc nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu các yếu tố
ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch trong nước của
nhân viên văn phòng tại TPCT” là hết sức cần
thiết. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích
các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch trong
nước của bộ phận NVVP tại TPCT, trên cơ sở đó
đề xuất những khuyến nghị chính sách cho các
doanh nghiệp du lịch tại Cần Thơ trong việc hình
thành chiến lược nhằm thúc đẩy nhu cầu du lịch
của bộ phận NVVP tại khu vực.
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mô hình nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lược khảo một số nghiên cứu có
liên quan đến nhu cầu du lịch, nhóm tác giả đề xuất
mô hình nghiên cứu bao gồm 5 nhóm nhân tố ảnh
hưởng đến cầu du lịch (Hình 1) đó là: công nghệ,
yếu tố ngẫu nhiên, chi phí, điểm du lịch và yếu tố
văn hóa-xã hội.